CÂY CAU: Một Thành Viên Quen Thuộc Của Vùng Nhiệt Đới

Ảnh: CÂY CAU Cây cau, tên khoa học là Areca catechu L., là một thành viên quen thuộc của họ Cau (Arecaceae) trong vùng nhiệt đới. Cây cau được biết đến với nhiều tên khác...

CÂY CAU Ảnh: CÂY CAU

Cây cau, tên khoa học là Areca catechu L., là một thành viên quen thuộc của họ Cau (Arecaceae) trong vùng nhiệt đới. Cây cau được biết đến với nhiều tên khác nhau như binh lang, tân lang, mạy làng (Tày), pơ lạng (K’Ho) và có tên gọi khác trong các ngôn ngữ nước ngoài như Areca - nut palm, betel - nut palm, areca palm, penang palm, catechu palm (Anh); aréquier, noix d’arec (Pháp).

Mô Tả

Cây cau có thân mọc thẳng đứng, cao khoảng 15-20m. Thân hình trụ rỗng, có nhiều vòng đốt là vết tích của những tàu lá rụng. Gốc thân hơi phình ra và mang nhiều rễ nổi trên mặt đất. Ở ngọn thân có một chùm lá rộng, lá chét hẹp ngang, màu lục bóng, có gân to. Cụm hoa là một bông mơ phân nhánh, thường gọi là buồng, bao bọc bởi một mơ rụng sớm. Quả hạch của cây cau có hình trứng, vỏ quả mỏng, nhẵn bóng, khi chín màu vàng đỏ. Quả có hạt hình nón cụt đầu tròn, màu nâu nhạt. Mùa hoa của cây cau là vào tháng 5 và mùa quả là vào tháng 10.

CÂY CAU Ảnh: CÂY CAU

Phân Bố Và Sinh Thái

Họ Areca có khoảng 20 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương. Tuy nhiên, trung tâm đa dạng của họ cây này lại ở vùng nhiệt đới Ấn Độ - Malaysia. Ở Việt Nam, có 3 loài cây cau. Cây cau có nguồn gốc ở Malaysia và sau đó được nhập trồng sang các nước khác ở Đông Nam Á và Nam Á như Philippin, Thái Lan, Indonesia (Sumatra, Java), Srilanca, Mianmar và cả Madagasca và Đông Phi.

Cây cau là một loại cây trồng lâu đời và rất quen thuộc ở Việt Nam. Cây có thể sinh sống ở khắp mọi nơi, nhất là vùng trung du và đồng bằng. Các tỉnh phía nam trồng nhiều hơn so với các tỉnh phía bắc. Cây cau thích nghi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Nhiệt độ trung bình từ 22 đến 26°C. Ở vùng núi cao trên 1000m ở các tỉnh phía bắc không thể trồng cây cau. Cây cau trồng từ hạt sau 4-5 năm có thể có hoa quả lứa đầu. Các năm sau đó, cây sẽ mang lại nhiều hoa quả hơn. Cây cau có thể sống được từ 60 đến thậm chí 100 năm.

Công Dụng

Theo y học cổ truyền, hạt cau có vị đắng, chát, tính ôn, vào các kinh tỳ, vị, đại tràng, có tác dụng diệt trùng, tiêu tích, hành khí, lợi thủy. Đại phúc bì có vị cay, tính hơi ôn, vào 5 kinh: tỳ, phế, vị, đại tràng, tiểu tràng. Có tác dụng hạ khí, khoan trung, hành thủy, tiêu thũng. Hạt cau và hoạt chất arecolin thường được dùng làm thuốc trị bệnh giun sán cho gia súc và gia cầm. Còn đối với người, hạt cau phối hợp với hạt bí ngô dùng để làm thuốc diệt sán.

  • Bài thuốc chữa sốt rét: Hạt cau 2g, thường sơn 6g, thảo quả 1g, cát căn 4g; nước 600ml. Sắc đặc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
  • Bài thuốc chữa khó tiêu, bụng đầy trướng: Hạt cau 10g, sơn tra 10g. Sắc nước uống.
  • Bài thuốc chữa phù toàn thân, bụng trướng, mạch phù: Đại phúc bì (chích), tang bạch bì (chích), phục linh bì, sinh khương bì, trần bì (ngũ bì ẩm). Mỗi thứ lượng bằng nhau. Mỗi lần dùng 12g, sắc nước uống hoặc nghiền thành bột uống.
  • Bài thuốc chữa ngoại cảm phong hàn, nội thương thấp trệ, tức ngực, bụng đau, nôn mửa, miệng nhạt: Đại phúc bì, bạch chỉ, tử tô, phục linh, mỗi thứ 30g, bán hạ, bạch truật, trần bì, hậu phác, cát cánh mỗi thứ 60g, hoắc hương 90g, cam thảo (chích) 70g. Tất cả nghiền thành bột uống mỗi lần 6g, hoặc sắc uống cho thêm 3 lát gừng sống và 1 quả đại táo.

Cây cau, bên cạnh công dụng trong y học, còn được trồng với mục đích khác nhau, trong đó có việc lấy quả để ăn trầu. Một số loài cây cau khác cũng cho quả được dùng để ăn trầu như Areca concinna ở Srilanca, Naga và Assam - Ấn Độ, và A. triandra ở đảo Andaman - Ấn Độ và Sumatra - Indonesia.

Cây cau không chỉ có giá trị về mặt y học mà còn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam.

1